Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Chùa cao linh và những tin đốn đoán

Vừa rồi mấy thằng ngồi với nhau cà phê cà pháo.Có anh Nhật lâu mới gặp,có bạn Hùng mới về chơi. Ngồi rỗi nói chuyện vui. Mình có nói về chuyện chùa Cao Linh và những lời đồn.Nhưng mấy bạn mình có vẻ như cho rằng mình nói sai. Ừ thì mình cũng là dân thường nên chẳng biết chuyện tày đình. Nhưng như đợt tăng giá xăng dầu vừa rồi thì dân biết trước và không có bỡ ngỡ. Vậy chuyện kia dân biết mà như sai.Vì đằng sau đó có những chuyện không nên nói ra trên báo chí. Vì sao vị sư ông kia bị tẩn suất ( khai trừ,đuổi) khi là cử nhân phật học tại Đài Loan về và ngôi chùa mang phong cách chùa Đài Loan hơn chùa Việt.
Đây là những gì báo nói:

Vì sao Thành hội Phật giáo ra Quyết định số 85/QĐ-BTS

Cập nhật: 29/8/2012 08:00
Như đã đưa “Hãy cảnh giác với tin đồn thất thiệt” trong số báo thứ sáu, ngày 24-8-2012, báo ANHP đã nhận được đơn khiếu nại của Đại đức Thích Giác Nghiên về Quyết định số 85/QĐ-BTS ngày 8-8-2012: “Tẩn xuất (khai trừ) đối với Đại đức Thích Giác Nghiên trụ trì chùa Cao Linh xã Bắc Sơn, huyện An Dương, TP. Hải Phòng” của Thành hội Phật giáo Hải Phòng. 
Chùa Cao Linh
Đơn khiếu nại của Đại đức Thích Giác Nghiên cho rằng: “Trong thời gian tôi trụ trì tại chùa Cao Linh, chưa hề có bất kỳ một vi phạm nào về pháp luật. Các hoạt động của chùa Cao Linh đều nằm trong khuôn phép của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Nội Quy Tăng sự quy định, chưa lần nào trong cương vị trụ trì tôi bị Ban đại diện Phật giáo huyện An Dương hoặc Thành hội Phật giáo Hải Phòng nhắc nhở, hoặc xử lý vi phạm”. Đại đức Thích Giác Nghiên khiếu nại về quy trình, thủ tục thu hồi quyết định bổ nhiệm trụ trì và tước pháp, tước tăng tịch, xoá tên trong danh bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Thành hội Phật giáo Hải Phòng đối với ông.

Đại đức Thích Giác Nghiên có sai phạm không?

Để làm rõ những nội dung khiếu nại này, phóng viên Báo ANHP đã có cuộc làm việc với Thượng toạ Thích Quảng Tùng, Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự kiêm Trưởng ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng; Thượng toạ Thích Thanh Giác, Uỷ viên Hội đồng Trị sự kiêm Phó ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó trưởng ban Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng và là thầy nghiệp sư của Đại đức Thích Giác Nghiên về những nội dung liên quan.

Thượng toạ Thích Quảng Tùng khẳng định: sai phạm lớn nhất là Đại đức Thích Giác Nghiên tự ý đứng ra độ đệ tử (truyền giới) khi chưa đủ tuổi hạ lạp. Việc Đại đức Thích Giác Nghiên tự mình truyền giới độ (kết nạp) đệ tử khi chưa đủ hạ lạp và không xin phép thầy nghiệp sư, không trình báo Ban đại diện Phật giáo huyện An Dương và Ban Tăng sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng là hành vi truyền giới phi pháp, bất chấp truyền thống “Tam sư thất chứng”, của đạo Phật Việt Nam, phá hoà hợp tăng và vi phạm nghiêm trọng Luật Phật chế, Tăng chế mà Thượng toạ Thích Quảng Tùng đã giải trình trước Phiên chất vấn tại Kỳ họp thứ 5 HĐND thành phố khoá XIV vừa qua. Cũng theo Thượng toạ Thích Quảng Tùng, việc Đại đức Thích Giác Nghiên không xin phép Thành hội Phật giáo Hải Phòng mà tự đứng ra tổ chức các buổi khất thực cho các Tăng trẻ đang tu học ở chùa Cao Linh là hành vi công khai vi phạm Nội Quy Tăng sự.

Tương tự, mặc dù được thầy nghiệp sư là Thượng toạ Thích Thanh Giác nhiều lần giáo dục, nhắc nhở, khuyên bảo, thậm chí cấm đoán việc tổ chức hàng loạt các hoạt động như: mở khoá tu mùa hè cho học sinh, sinh viên; mở Niệm Phật đường; mở “Phân viện chùa Cao Linh: Cửa hàng bán đồ thờ Phật giáo tại 246 Hai Bà Trưng”; Bán đất chùa Cao Linh để cho xây dựng mồ mả và bán đất tháp mộ... khi mà những việc làm này vẫn chưa nhận được sự đồng thuận của Ban đại diện Phật giáo huyện An Dương, Ban Trị sự Thành hội Hải Phòng, hoặc chưa có đầy đủ thủ tục cấp phép của các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền khi sử dụng đất sai mục đích, nhưng ông Nghiên vẫn bất chấp, khăng khăng cho là mình đúng.   

Hội nghị mở rộng Ban trị sự

Theo Thượng toạ Thích Quảng Tùng, việc Thành hội Phật giáo ban hành Quyết định số 85/QĐ-BTS là căn cứ vào: Báo cáo ngày 17-6-2012 của Ban đại diện Phật giáo huyện An Dương (do Đại đức Thích Giác Huy, Phó ban đại diện Phật giáo huyện An Dương ký) về việc Đại đức Thích Giác Nghiên (thế danh Lại Văn Nghĩa, sinh 1977) trụ trì chùa Cao Linh có hàng loạt các vi phạm như: Không tham gia các hoạt động của Ban đại diện; sử dụng đất sai mục đích; tổ chức thế phát (cắt tóc) cho người tại gia và truyền giới vi phạm Luật Phật và pháp luật của Nhà nước.

Ngày 18-6-2012, Thượng tọa Thích Thanh Giác, Phó trưởng ban Ban trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng đồng thời là thầy nghiệp sư của đại đức Thích Giác Nghiên có đơn đề nghị gửi thường trực Ban trị sự THPG Hải Phòng, Ban đại diện Phật giáo huyện An Dương với nội dung: “Sư ông Thích Giác Nghiên đã vi phạm như sau: Phát ngôn coi thường chư tăng trong Thành hội; xây dựng các công trình phụ cận không phù hợp với truyền thống kiến trúc văn hóa Phật giáo và dân tộc; bán đất để mồ mả gây dư luận xấu; độ người xuất gia truyền giới phi pháp; mở niệm Phật đường; mở các phòng phát hành văn hoá phẩm Phật giáo” (tất cả những việc làm trên đều không xin phép thầy nghiệp sư và chưa được sự đồng ý của các cấp Giáo hội).

Trong phiên họp Ban thường trực Thành hội Phật giáo TP Hải Phòng diễn ra ngày 22-6-2012, các đại biểu dự họp đều nhất trí với ý kiến là: Trong nhiều năm qua, đại đức Thích Giác Nghiên đã làm nhiều việc ảnh hưởng đến thanh danh Giáo hội, coi thường chư tăng, coi thường Luật Phật chế, Tăng chế. Các thành viên Ban Thường trực đều nhất trí “tẩn xuất” (khai trừ) Đại đức Thích Giác Nghiên ra khỏi Tăng đoàn Thành hội Phật giáo Hải Phòng. Và có văn bản hỏi lại Thượng toạ Thích Thanh Giác xem xét lại một lần nữa Thượng tọa còn có thể giáo dục Đại đức Thích Giác Nghiên được nữa không, trước khi Ban Trị sự họp Quyết định.

Ngày 2-7-2012, Thượng tọa Thích Thanh Giác có đơn đề nghị “xét thấy sư ông Thích Giác Nghiên không thể giáo dục được; không đủ phẩm hạnh của một vị Tỳ kheo trong Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam”. Trước khi ra quyết định “tẩn xuất” Đại đức Thích Giác Nghiên ra khỏi Tăng đoàn, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng đã mở hội nghị mở rộng tới Chánh phó, thư ký các Ban đại diện Phật giáo quận, huyện. Và ngày 28-7-2012, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng có văn bản báo cáo Hội đồng Trị sự Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Cũng theo Thượng toạ Thích Quảng Tùng, sắp tới đây, Thành hội Phật giáo Hải Phòng sẽ có buổi làm việc giải quyết khiếu nại của sư ông Thích Giác Nghiên. Về việc Thành hội Phật giáo Hải Phòng khi ra văn bản Quyết định số 85/QĐ-BTS ngày 8-8-2012: “Tẩn xuất (khai trừ) đối với Đại đức Thích Giác Nghiên trụ trì chùa Cao Linh xã Bắc Sơn, huyện An Dương, TP. Hải Phòng” có một số lầm lẫn nhỏ của văn thư trong viện dẫn các điều khoản, Thượng toạ Thích Quảng Tùng cho rằng những nhầm lẫn này sẽ được xử lý cùng với giải quyết khiếu nại của Đại đức Thích Giác Nghiên. 
TRẦN PHƯƠNG
còn ai theo dõi nữa tự tìm

Nhân ngày Lễ Vu Lan

Ngày trước khi còn ở ngoài Bắc,  tháng 7 mọi người đều gọi là tháng "Xá tội vong nhân" là tháng những người âm được lên trần gian, trở về thăm nhà. Các cửa ngục đều mở. Và  rằm tháng 7 luôn có cỗ rất lớn, đốt rất nhiều vàng mã, và dứt khoát phải có mâm cúng ngoài trời, cúng chúng sinh cho những linh hồn không có chỗ về, lang thang ngoài đường.  Vào trong này, tôi mới biết rằng tháng 7 còn là tháng Vu Lan hay còn gọi rất hay là Mùa Vu Lan báo hiếu. Mọi người rất hay đi chùa ăn chay và cầu an cho cha mẹ. Bài hát " Bông hồng cài áo" cũng từ ý nghĩa này. Tôi rất thích ý nghĩa rất nhân văn của ngày rằm tháng 7 dù là ở Miền Nam hay Miền Bắc. Gửi các bạn một bài về Lễ Vu Lan của Thiền sư Thích Vạn Hạnh nhé.



Bông Hồng Cài Áo
Thích Nhất Hạnh

Để dâng mẹ và để làm quà Vu Lan cho những người nào có diễm phúc còn mẹ.
Medford, Hoa Kỳ, tháng tám, 1962,
Nhất Hạnh


Ý ni
ệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không "lớn" lên được. Cằn cỗi , héo mòn. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: Tai nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, bài thơ ca tụng tình mẹ bài nào cũng dễ, cũng hay. Người viết dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngay từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ. Những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài thơ ấy thì sợ sệt, lo âu.... sợ sệt lo âu một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chưa chắc chắn phải đến:
Năm xưa tôi còn nhỏ
Mẹ tôi đã qua đời !
L
ần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi.

Quanh tôi ai cũng khóc
Im l
ặng tôi sầu thôi
Ðể dòng nước mắt chảy
Là b
ớt khổ đi rồi...

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi th
ấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.

M
ột bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt nam không ưa cách nói cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách vừa giản dị vừa đúng mức:
Mẹ già như chuối ba hương
Nh
ư xôi nếp một, như đường mía lau.

Ngon bi
ết bao ! Những lúc miệng vừa đắng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lên ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay ? hay là tơ trời đâu la miên ?) trên trán nóng ta và than thở "khổ chưa, con tôi ", ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp một, và đậm đà lịm cả cổ họng như đường mía lau. Tình mẹ thì trường cửu, bất tuyệt; như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy không bao giờ cùng tận.

Công cha nh
ư núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra . Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm yêu thương. Mẹ là giáo sư dạy về yêu thương, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi được biết tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý thương yêu của tôn giáo vốn dạy về tình thương.

Ð
ạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Ðạo Chúa có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có thánh mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ Mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương tín ngưỡng và hành động thì không xa chi mấy bước.

Tây ph
ương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother's Day) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Ðông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng.

Tôi nhìn l
ại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.

M
ẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món qùa lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Ðừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: "trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ!". Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Ðòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Ðể mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Ðể khi mẹ mất mình có cảm nghĩ: "Thật như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ!"

Chi
ều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang còn sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: " Mẹ ơi, mẹ có biết không ?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ nói: "Mẹ có biết là con thương mẹ không ?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi ngừơi cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng.

Ngày Vu Lan ta nghe gi
ảng và đọc sách nói về ngài Mục Kiền Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương Tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận.

Th
ương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát thì uống nước. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ là con. Ðó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa thầy giáo hỏi rằng: "Con mà thương mẹ thì phải làm thế nào?" Tôi trả lời: "Vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi". Bây giờ thì tôi biết rằng: Con thương mẹ thì không phải "làm thế nào" gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi " làm thế nào " nữa!

Th
ương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt hại cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi. Ðể mai này anh chị đừng có than thở rằng: Ðời ta không còn gì cả. Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì họa chăng có làm Ngọc hoàng Thượng đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.

Tôi k
ể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Ðáng nhẽ chị tôi không đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi.

Nh
ưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: "Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác". Chị tôi gục đầu xuống mâm khóc. Chị nói: "Thôi con không lấy chồng nữa". Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. "Cắt ái từ sở thân" là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào mà không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng qúi báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau.

Anh c
ũng đừng tưởng tôi khuyên anh: "Không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ!". Tôi đã nói là tôi không khuyên răn gì hết -- tôi không giảng luân lý đạo đức -- rồi mà! Tôi chỉ nhắc anh: "Mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương". Ðể chị đừng quên, để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn : Cũng không phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một bông hoa hồng: để anh sung sướng, thế thôi.

N
ếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh, như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ, để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: "Mẹ ơi, mẹ có biết không?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: "Mẹ có biết là con thương mẹ không?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng hỏi một câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, Anh sẽ không hối hận, đau lòng , tiếc rằng anh không có mẹ.

Ðó là
điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Ðóa hoa mầu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.
Thích Nhất Hạnh (1962)

(Sưu tầm)